Nồi lẩu cháo chim bàn bên cạnh nghi ngút khói. Cái quạt bàn - trần xuất xứ Hồ Cẩm Đào đảo như rang lạc phả hơi nóng ra chung quanh. 1 giọng nữ tầm 30 cất lên lanh lảnh: "....chim của bọn em toàn cánh, chả thấy cái đùi chim nào cả...". Vẫn cái giọng nữ ấy sau đó vài giây: "...chỗ này là chúng nó còn làm kiểu Hà Nội đấy, chỗ khác á, quê bỏ mẹ, ăn chả ra gì...". Quê ở đây (giờ xoành điệu phải gọi là "kua") chắc là không ngon thôi. ...Chứ hơn 30 năm ăn ị Hà Nội đến giờ, chả thấy ai bảo "lẩu chim" là món Hà Nội cả.
He, nói lại bảo là chưa già đã lẩm cẩm, mở miệng ra là ngày xửa.. ngày xưa. Nhưng mà phải nói đồ ăn xưa ... ngon và tinh hơn những thứ đang được nâng tầm thành "văn hóa ẩm thực Hà Nội" bây giờ nhiều.
Đại diện tinh tú ẩm thực Hà Nội quay đi quay lại vẫn là phở, cho dù có nhiều người nói rằng phải là bún ốc, bún thang, bún riêu hay... cả miến lươn. Ừ, sẽ nói đến, nhưng trước hết là phở đã.
Hồi còn bé tí, chỉ có lăn ra ốm, cặp nhiệt độ lên đến hơn 38 độ C mới được ăn phở. Phở ở đây là phở bò chín của bố con nhà ông Tý đầu phố. Các cụ vẫn bảo: "miếng ngon nhớ lâu...", thế mà đúng thật đấy. Hơn chục miếng thịt thái mỏng rải đều trên lớp bánh phở vừa trần qua nước sôi nghi ngút, hành chẻ, thái nhỏ, mùi ta, rau thơm... và cuối cùng là nước phở. Cái thứ nước tỏa mùi thơm thần kỳ ấy không thể lẫn vào đâu được và chắc là cũng chẳng bút nào tả xiết. Gánh phở của cụ Nguyễn Tuân tả cũng chảy nước miếng thật đấy, "ăn miếng phở nóng giữa trời đông giá rét mà như nhét cái chăn bông vào bụng", nhưng cũng không thể nào ngon bằng bát phở kia được. Không thể nào và không bao giờ nhé. Làm gì có chuyện phở tả bằng bút mà lại ngon bằng phở chín mình chuẩn bị ăn. Thêm thìa dấm ngâm tỏi ớt, muỗng tương ớt quánh nồng, tí hạt tiêu là xong. Chén. Có ốm thì cũng phải cố mà chén hết bát. Mai khỏi ốm, chả có phở mà ăn nữa đâu. Buổi sáng 6h30 mà đi qua đấy thì cứ gọi là nứt mũi, phải cố mà rảo thật nhanh bởi 200đ thì chưa đủ nửa bát phở chín, chỉ đủ xôi lạc, vừng thôi.
Giờ chả biết cái miệng ăn của mình ăn lắm thứ tạp quá nó 4` đi hay phở Hà Nội giờ mất chất mà chả thấy ... thèm phở nữa. Đi qua hàng phở dửng dưng, thấy chả thể quyến rũ nổi mình nữa. Nhưng vẫn phải ăn. Vì chả ăn thì cũng chả có gì hơn. Phở gà, phở bò giờ phố nào ít thì dăm hàng, phố nhiều đến cả chục. Xoành điệu phải ăn phở gà chặt, hoặc lai lai kiểu... gà tái bò

. Phở gà Lê Văn Hưu 1 thời lừng lẫy giờ có thêm cả mọc, cả giò. Không ăn chả ế

.
Lại nói chuyện phở. Này nhé, phở Hà Nội làm gì có cái thứ phở mà ăn phải xếp hàng dài đằng đẵng như cái thời "phở mậu dịch". Ở đâu hở. Bát Đàn đấy. Xếp hàng, tiền cầm ra đằng tay... chỉ có tái và tái gàu nhé... không ăn à... cũng chả cần

. Cái văn hóa xếp hàng ấy chỉ nảy nòi từ cái thứ kinh tế bao cấp, chứ người Tràng An ai lại đi chen lấn xếp hàng vì miếng ăn thế bao giờ. Những ngữ phở, bún, miến vốn chỉ được coi là "quà" thì giờ được xếp vào hàng văn hóa. Đấy, phở xếp hàng Bát Đàn giờ là một nét ẩm thực rồi đấy.
Ngẫm thấy cái sự ăn của người Hà Nội bây giờ rất vớ vẩn. Cầu kỳ nửa mùa và tao nhã lưng lửng. Ngon nó phải đồng bộ, khung cảnh ngon, không khí ngon, con người ngon,... rồi cuối cùng mới đến cái cho vào mồm ngon. Đây thì chỉ xì xụp húp, ngẩng lên thấy một đoàn mông xếp hàng, cúi xuống thấy một chó đang bới giấy vệ sinh, thi thoảng bị bạn ăn bên cạnh chọc đũa vào mặt hay nước dùng đổ vào đầu do chúng nó chen nhau. Thế mà vẫn ngon mới lạ, cái ngon cảm nhận duy nhất bằng đường mồm. Nói là hèn cũng chả sai. Tra cả kho từ Tiếng Việt mà không tìm được từ gì khác để chỉ đúng... não trạng của những người này. Các cụ ngày xưa dạy: miếng ăn là miếng nhục. Ăn sao cho đỡ nhục đã rồi hay tính đến thú ăn tao nhã hay "ăn đạo". Ăn mà chỉ để giải quyết vấn đề cho anh cu mồm thì là cái ăn sinh học, nó giống như mọi loài, Tiếng Việt gọi là tợp.