|
Ngôn từ bóng đá - Có thể bạn chưa biết?
hippo13
PCT FDF Việt Nam & Chủ tịch FDF Sài Gòn Der Kaiser
Gia nhập: Apr 2007
Bài gửi: 2,600

18-03-2008, 14:51 PM
Điểm:
()
Bóng đá là một môn thể thao đang phổ biến khắp hành tinh. Ra đời tại nước Anh vào thế kỉ 19, bóng đá trở thành một trò chơi “có một không hai” với tính đối kháng quyết liệt, phóng khoáng và rất sinh động. Trong tiếng Việt hiện nay, không ít từ có xuất xứ từ ngôn từ bóng đá, du nhập từ tiếng Tây. Tiếng Tây nhưng ít nhiều đã được Việt hóa theo cách dùng phù hợp của tiếng ta.
Copa America nghĩa là gì?
Theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “Cúp châu Mỹ”. Đây cũng là cách nói ngắn gọn của Cúp bóng đá châu Mỹ, được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1910 (tại Argentina). Cụm từ châu Mỹ chưa chính xác lắm vì giải này chỉ dành cho các đội Nam Mỹ, trong khi đó, châu Mỹ bao gồm cả Bắc Mỹ, Trung Mỹ và các nước vùng biển Caribe. Và hiện nay, các nước ở 3 khu vực này nếu tham gia thì chỉ là khách mời, chứ không phải với tư cách thành viên chính thức.
Copa (tiếng Tây Ban Nha), Coupe (tiếng Pháp), Cup (tiếng Anh) đều bắt nguồn từ Cuppa của tiếng Latin. Từ này có nghĩa là “Cái cốc - (loại) miệng rộng, có chân”. Theo truyền thống, trong các cuộc thi tài trước đây, ở các nước La Mã và Hy Lạp cổ, người đoạt giải nhất thường được tặng một giải thưởng có hình một cái cốc lớn bằng kim loại quý, đế cao, miệng loe rộng và thường có hai quai. Người đoạt giải trong lúc reo mừng, hay đổ đầy nước hoặc rượu vào cốc để té vào những người xung quanh.
Theo thời gian, hình dáng và chất liệu của chiếc Cup cũng thay đổi, chỉ giữ lại đôi nét hình chiếc cốc xưa. Thậm chí, người ta còn thay Cup bằng một vật dụng khác. Dưới bàn tay của các nghệ nhân, nó bị cách điệu hoàn toàn, có khi biến dạng hẳn như Cup Nữ thần vàng (trước đây, còn gọi Cup J. Rimet, đã được trao vĩnh viễn cho đội Brazil 3 lần vô địch thế giới) và Cup FIFA (hiện nay) được trao luân lưu cho đội vô địch, chỉ có giá trị như một tác phẩm điêu khắc.
Giải vô địch bóng đá thế giới trước đây được gọi tắt theo ngôn ngữ của nước đăng cai (như ESPANA 82 còn gọi là MUNDIAL 82, MEXICO 86 gọi là MUNDIAL 86, ITALIA 90 còn gọi là MONDIALE 90...). Gần đây, người ta hay dùng cụm từ tiếng Anh là WORLD CUP (Cúp bóng đá thế giới: World football Cup hoặc Giải vô địch bóng đá thế giới: World football Championship). Cup phiên âm sang tiếng Việt là “cắp”. Nhưng phát âm như vậy trong các tổ hợp như World Cup, mà nhiều phát thanh viên vẫn đọc là Uôn-Cắp (hoặc Uôn-Cup) còn tạm chấp nhận, chứ trong các kết hợp với nhiều tổ hợp tiếng Việt thì ta phải đọc khác. Chẳng hạn, ta vẫn nghe nói Cúp bóng đá Quốc gia, Cúp vàng, Cúp liên lục địa, Cúp Cờ vua, Cúp xe đạp truyền hình... Trong các trường hợp này, không ai thay từ “Cúp” bằng từ “Cắp” cả (nhất là từ cắp trong tiếng Việt dễ gây liên tưởng với nghĩa xấu). Từ Cup đã được Việt hoá và về cơ bản đã được định hình cả về ngữ âm lẫn ngữ nghĩa.
Gọi là “phạt penalty” - Có được không?
Khi đọc sách báo và nhất là khi nghe bình luận viên tường thuật bóng đá trên đài hoặc trên tivi, ta thường nghe thấy: “Đội A được hưởng quả phạt penalty”, hay “Trọng tài cho đội B hưởng quả phạt 11 mét”, hoặc “Trọng tài đã chỉ tay vào chấm phạt đền”… Các quả phạt này có giống nhau không, và tại sao lại gọi là penalty?
Đây là các từ rất thông dụng trong bóng đá. Các cụm từ: phạt đền, phạt 11 mét, penalty (pê-nan-ti) hoàn toàn giống nhau về ngữ nghĩa. Khi một cầu thủ phạm lỗi với cầu thủ đối phương trong khu vực quy định trước khung thành của đội mình (thường được gọi là vùng cấm địa hay khu vực 16m50) thì sẽ bị trọng tài phạt bằng cách cho đối phương được đá quả bóng trực tiếp, đặt cách khung thành 11 mét (ở chấm phạt đền, sơn hoặc quét vôi trắng) và chỉ có thủ môn là người duy nhất được phép cản bóng khi cầu thủ đối phương thực hiện quả phạt (Luật FIFA còn có những quy định rất chi tiết về thể thức cũng như vị trí của các cầu thủ khi thực hiện quả phạt này).
Trước đây, khi còn sử dụng các sân bóng nhỏ và hiện nay đối với các sân bóng trong nhà, cự li đá phạt chỉ là 6 mét (ta thường nghe nói là phạt xích mét, xích = six, tiếng Anh nghĩa là 6). Pê-nan-ti là phiên âm của từ tiếng Anh penalty. Từ này có gốc Latin là poena, có nghĩa là “hình phạt”. Đây là lỗi phạt nặng nhất trong bóng đá, vì vậy người ta thường dùng cụm từ death penalty (hình phạt chết, tử hình) để chỉ quả phạt này. Do bản thân từ penalty đã có nghĩa là “phạt” vì thế, nếu ai đó nói là phạt penalty là thừa. Cũng cần phải lưu ý một điều, nhiều khi người ta áp dụng kiểu đá này trong trường hợp cần phân định đội thắng nếu hai đội đã đá xong 2 hiệp chính và 2 hiệp phụ mà vẫn hoà. Lúc đó, ta không thể nói là “đá penalty” mà phải nói là “đá luân lưu 11 mét để phân thắng phụ”.
Hattrick - từ thể thao vào ngôn ngữ
Gần đây, trên báo chí, khi đưa tin về các trận bóng đá, ta thường thấy xuất hiện một từ tiếng Anh, nguyên dạng hattrick (hat-trick).
Thực ra, nếu để ý, ta sẽ thấy (chỉ riêng trong thể thao thôi) có khá nhiều từ viết nguyên dạng. Không phải là những từ này không thể dịch sang tiếng Việt được mà là nếu dịch ra cho rõ thì đòi hỏi phải diễn giải khá dài. Chẳng hạn như các tổ hợp từ: Trận đấu play-off (Một trận đấu thêm (duy nhất) để quyết định người thắng sau một trận đấu (trước đó) kết thúc mà vẫn chưa có ai thắng [Từ điển Longman 1999]); Trận (bóng) derby (Trận đấu giữa 2 đội - thường là ngang bằng nhau - ở cùng một địa phương trong một giải nào đó). Thực ra, giải nghĩa như trên cũng chưa hẳn đã thỏa đáng vì muốn nói “cho ra nhẽ” ta còn phải giải thích thêm nghĩa xuất xứ từ nguyên và các nghĩa phụ có liên quan (chẳng hạn tại sao lại là Derby, vốn là một thành phố của Anh?).
Trở lại từ hattrick. Đây là một thuật ngữ thể thao nhưng ban đầu nó không thuộc lĩnh vực bóng đá. Khởi nguồn của hattrick là môn cricket (có nguồn gốc từ nước Anh), vốn là một trò chơi được thực hiện trên sân cỏ, mỗi đội có 11 cầu thủ, trong đó quả bóng (nhỏ hơn bóng đá) được đánh đi bằng gậy và bàn thắng được ghi trong khi chạy. Cầu thủ đánh được ba trái bóng liên tiếp trong một trận thì được coi là lập một chiến công xuất sắc. Để chỉ chiến công này, người Anh đã sáng tạo ra cụm từ hat-trick - có nghĩa là “ngả mũ (chào)”. ở môn cricket, một cầu thủ ghi tới 3 bàn trong một trận quả là một nỗ lực xuất thần, đáng kính nể tới mức phải “ngả mũ” bái phục.
Bóng đá cũng có những điểm tương đồng với cricket (về sân bãi, số cầu thủ, cách chơi, số bàn thắng có thể ghi...) mà cụm từ hattrick đã được dân nghiền bóng đá đem ra sử dụng rất phổ biến. Tới mức, giờ đây người ta đã quên hẳn môn cricket là nơi đã khai sinh ra nó.
Và điều này mới thật thú vị. Do tính phổ cập, lôi cuốn của bóng đá (vốn được tôn vinh là môn thể thao Vua) mà hattrick đã được sử dụng với một phạm vi ngày càng rộng rãi, ngay cả trong địa bàn tiếng Việt mà nó mới du nhập. Hattrick tiếp tục được dùng với nét nghĩa chỉ “ba thành công tương tự được lập bởi một người (hay một đội) trong một môn thể thao”. Ví dụ: “Lance Armstrong sẽ lập được một hattrick ở vòng đua nước Pháp, liên tiếp mặc áo vàng ở 3 cuộc đua 1999, 2000, 2001” (Báo Lao Động, 7-2001); Rộng hơn, hattrick còn được dùng để chỉ “ba kì tích của ai đó trong bất kì một lĩnh vực nào trong cuộc sống”: “Đứa con trai đã giúp chị làm nên hattrick của đời mình. Trở thành một người tốt từ vũng bùn tội lỗi, đây là niềm vui thứ ba lớn nhất trong đời chị...” (Báo Pháp luật & Đời sống 1995).
Có lẽ, cuộc “hành trình” của hattrick sẽ không chỉ dừng lại ở đây. Bắt đầu từ thể thao, cụm từ nổi tiếng này ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động và tạo cho mình một sức sống riêng. Đây cũng là một hiện tượng bình thường. Điều đó đã phản ánh một phần hấp dẫn của thể thao. Một phần giá trị đáng nói xét từ góc độ ngôn ngữ và văn hoá.
Hooligan - Từ đâu anh tới?
Hooligan - một từ gốc tiếng Anh nhưngbây giờ không còn là “đặc sản” của người Anh mà đã được quốc tế hoá và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Đối với người Việt Nam, hooligan khiến người ta dễ dàng liên tưởng đến một đối tượng rất đáng ngại. Quả thật, ba âm tiết được phát âm là hu-li-gân dường như không đem lại cho người nghe một chút thiện cảm nào. Không những thế, nhắc đến hooligan, tự nhiên ta hình dung ra một lớp người dữ dằn, hung tợn, có những cách ứng xử bất chấp mọi lẽ thường phải có trong thể thao.
Từ điển Từ mới tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, NXB TP Hồ Chí Minh, 2006) định nghĩa hooligan là: “Cổ động viên cuồng nhiệt đến mức quá khích, thường có hành vi bạo lực, côn đồ...”. Từ này trong tiếng Anh có nghĩa là “bọn du côn, bọn lưu manh” (Từ điển Anh-Việt, Lê Khả Kế, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998). Nghĩa này, kể ra cũng đã khác so với hiện tại. Hãy khoan nói đến sự tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa, chỉ biết rằng, từ này nhập từ tiếng Anh. Và thực tế, các hooligan nổi tiếng nhất thế giới cũng mang “quốc tịch” Anh.
Nhưng nếu truy tìm cho đến gốc gác “ngọn nguồn lạch sông” thì hooligan lại được “khai sinh” ra tại nước Cộng hoà Iceland (thuộc Liên hiệp Vương quốc Anh & Bắc Ireland). Bắt đầu từ một tộc họ có tên là HOOLIHAN. Đây là một dòng họ quý tộc nổi tiếng cường bạo ở thị trấn Gerla, phía nam thủ đô Reikiavik, giáp với biển Atlantic. Lúc đầu, từ Hoolihan chỉ xuất hiện trong một bài hát vui mà đám thanh niên thường hát để trêu chọc nhau trong các dịp hội hè. Sau đó, nó dần dần thâm nhập vào đám các cổ động viên thể thao rồi phổ biến nhất là trong lĩnh vực bóng đá (football - tiếng Anh, hay soccer - tiếng Mỹ).
Ở châu Âu hiện nay, hooligan là nhóm các cổ động viên quá khích đến mức sẵn sàng gây gổ, nổi máu bạo động, đánh lộn nhau bằng mọi cách. Điển hình nhất là trận đụng độ giữa hai nhóm cổ động viên của Liverpool (Anh) và Juventus (Italia) trong trận tranh Cúp C1 tại sân vận động Heysel (Bỉ) năm 1985. Hơn 40 người đã thiệt mạng (chủ yếu là người Italia), đến nỗi, UEFA đã ra lệnh cấm tất cả các CLB Anh không được tham gia 3 Cúp châu Âu nhiều năm sau đó.
Ở Việt Nam, hooligan xuất hiện muộn nhưng cũng chẳng kém cạnh ai. Họ không chỉ “gân mặt” mà còn “gân mồm” và cuối cùng là nổi máu “gân tay”. Khi cần, sẵn sàng nhào vô, xáp lá cà, thượng cẳng chân, hạ cẳng tay náo loạn trên khán đài. Khán giả Việt Nam nhiều phen thất kinh tự hỏi: “Kì lạ quá cái đám hooligan này. Ngày xưa có thấy họ đâu, mà bây giờ, không rõ là từ đâu tới?”.
suutam
|