Đăng Ký Hỏi/Đáp Thành Viên Lịch Tìm Kiếm
Find All Thanked Posts Bài Trong Ngày Đánh Dấu Đã Đọc
Quay Lại  


Follow BongDaDuc.vn on Facebook Follow BongDaDuc.vn on Twitter Contact Us
Gửi Ðề Tài Mới  Gửi trả lời
 
Công Cụ Xếp Bài
Tuổi 23-06-2008, 22:45 PM   #1
Những con người vĩ đại của nước Đức
 
Avatar của dumpling00
dumpling00
Senior Member
Gia nhập: Jul 2007
Nơi sống: HCMC
Bài gửi: 159

Tạo Trang In Gửi Email Trang Này
dumpling00 dumpling00 Không trực tuyến 23-06-2008, 22:45 PM
Điểm: ()

Nước Đức- ngoài 1 đội tuyển bóng đá mà chúng ta cực kì yêu mến, Đức còn là quốc gia có nhiều nhà khoa học vĩ đại.Topic này sẽ thống kê, chia sẻ hiểu bit của mọi người về vấn đề này!
__________________
Mannschaft là tất cả , Bayern là linh hồn , Kahn ở trong tim
Đã xem: 5744
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
  #2 (permalink)  
Tuổi 23-06-2008, 22:51 PM
Avatar của dumpling00
Senior Member
 
Gia nhập: Jul 2007
Nơi sống: HCMC
Bài gửi: 159
Cảm Ơn: 87
Thanked 24 Times in 14 Posts
Gửi tin nhắn qua Yahoo tới dumpling00
E xin góp 1 bài đầu tiên!
Johannes Gutenberg – ông tổ ngành in
Xã hội loài người ngày càng văn minh là nhờ có chữ viết. Ra đời từ năm 3300 TCN, chữ viết phát sinh từ các nhu cầu xã hội như: ghi chép về mùa màng, đo đạc đất đai...Những chữ viết đầu tiên vô cùng thô sơ, với gần 2000 dấu hiệu biểu thị khá “phiền phức”
Hơn 2000 năm sau, người Hy Lạp tiếp đến là La Mã đã cải tiến các chữ viết đó rồi truyền đi khắp Châu Âu. Việc phát minh ra chữ viết đã đưa lịch sử nhân loại sang trang mới. Nhờ tri thức đc truyền từ đời này sang đời nọ, trải qua quá trình pt lâu dài mà con người đã tạo nên những nền văn minh huy hoàng. Nhưng vô số các thảm hoạ khủng khiếp cũng đã đẩy các nền văn minh cổ đại đến sự huỷ diệt.
VD:Thư viện Alexandria ở Ai Cập bị ngọn lửa của quân xâm lược La Mã thiêu hủy vào ~ năm 48-47 TCN
Quân Thập tự chinh Thiên chúa giáo đã huỷ diệt hầu hết ~ di sản văn hoá thời cổ đại
Tần Thuỷ Hoàng đốt sách, giết hại nhà Nho.
Nhưng rồi 1 phát minh vĩ đại đã xuất hiện, nhờ đó mà thành tựu văn hoá, khoa học đc bảo vệ & lưu truyền. Đó chính là kỹ thuật in chữ đúc rời (in tipo) do Johannes Gutenberg phát minh năm 1454, đã in ra quyển “Thánh King” đầu tiên của nhân loại.
Johannes Gutenberg (khoảng 1390 – 3/2/1468) trong 1 gia đình trung lưu ở thị trấn Mainz nước Đức. Tuổi thơ của ông vô cùng vất vả do phải cùng cha mẹ đi tha hương kiếm sống, bởi ~ thù hận trong gia tộc gây ra. Cha mẹ lâm cảnh bần hàn, buộc ông phải đi kiếm sống từ khi còn nhỏ tuổi.

Xem ảnh to

Bản tính wá thật thà, chất phác, khiến cho người chủ ko ưa và buộc ông phải ra đi. Nhưng ông luôn tin vào Thượng Đế, luôn mong muốn mình trở thành người lương thiện. Chính vì điều này đã khiến ông trắng tay kể cả với phát minh vĩ đại của mình.
Ông xin vào làm việc tại 1 công xưởng. Sau đó do ~ xung đột về giáo phái, ông buộc phải trốn chạy về Strassburg. Ở đây, ông xin đc việc làm trong 1 nhà in. Nhờ tinh ý và cần cù chịu khó, chẳng bao lâu, ông đã nắm vững các quy trình, thao tác như cách viết ngược, làm bản khắc, phết mực…Ông hăng say làm việc như 1 con ông thợ, hăng hái lao vào cải tiến máy in. Nhưng ông chủ là 1 lão xấu bụng luôn tìm cớ hãm hại ông.
Thời cơ đã đến, khi 1 tên vô lại nhờ lão in giúp 1 tài liệu nghi vấn. Lão gọi ông lên giao việc, mặt khác lại đi báo cảnh sát. Sự thật thà khiến ông mắc bẫy. Lập tức ông bị tống giam, rồi đuổi khỏi nhà máy. Hận vì nhân tình thế thái đảo điên, ông đưa cả gia đình về wê hương sau 20 năm ly biệt.
Thị trấn Mainz vẫn như xưa, nhưng nhà cửa vườn tược của gia đìng ông đã tiêu điều đổ nát. Ông lại trờ về cuộc sống bần hàn của mình.
Việc đầu tiên ông nghĩ là phải lập 1 nhà in nhỏ. Bị cả gia đình phản đối, ông vẫn quyết tâm bán 1 phần ruộng đất để mua máy in nhỏ, cả ngày ở trong xưởng in say sưa tìm hiểu, cải tiến. Ko ai đồng ý với ông, chỉ có Schuster- 1 tên tư bản khôn ngoan. Ranh ma xảo trá, hắn đồng ý cho ông vay tiền với điều kiện cầm cố cả gia sản. Sự ngay thơ lại 1 lần nữa đẩy ông vào thảm cảnh. Ông đồng ý ký vào bản vay tiền. Ông biết rằng in bằng bản khắc là vô cùng lãng phí và tốn công. Ông đã tìm cách đúc các con chữ rời vừa sử dụng đc nhiều lần, vừa nâng cao chất lượng bản in.

Xem ảnh to

Thời gian trôi wa, ông miệt mài nghiên cứu để hoàn chỉnh chiếc máy in. Ông ko lúc nào wên đc “lòng tốt” của Schuster vì nhờ có tiền của hắn mà ông mới có cơ hội chuyên tâm làm việc. Ông thầm hứa, nếu thành công, ông sẽ in Kinh Thánh để cảm tạ Chúa Trời đã júp mình. Nhưng khi thành công, Schuster đã ra tay. Hắn kiện ông vì ko trả đc nợ, nhân cơ hội đó cướp lấy nhà in tâm huyết của cả cuộc đời ông. Toà án phán quyết cho Schuster thắng kiện, làm ông phát điên phát dại. Ông chỉ biết đứng nhìn từng cuốn Kinh Thánh còn thơm mùi mực mà nước mắt lưng tròng. Ông gào lên trong sự đau đớn tột cùng : "Đó là nhà in của tôi, Kinh Thánh của tôi!"
Ko ai đoái hoài đến ông - 1 ông già rách rưới già nua. Schuster đã hoàn tất cú lừa ngoạn mục, hả hê đếm tiền trên sự đau khổ của Gutenberg. Ông phát bệnh và gục ngã, để rồi chết tức tưởi vào năm 1468. Ông đâu biết rằng, các quyển Kinh Thánh mà ông dồn cả sức lực, máu và nước mắt vào đó, nay là ~ vật báu vô giá. Và cả nhân loại nghiêng mình trước phát minh vĩ đại của ông – Nhà phát minh tài ba Johannes Gutenberg
(Tổng hợp từ dumpling's books)
__________________
Mannschaft là tất cả , Bayern là linh hồn , Kahn ở trong tim

Last edited by mhieu : 24-06-2008 at 15:41 PM. Lý do: Đừng màu mè em nhé.
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Có tất cả 8 thành viên đã cảm ơn bạn dumpling00 vì bài viết:
  #3 (permalink)  
Tuổi 23-06-2008, 22:54 PM
Avatar của dumpling00
Senior Member
 
Gia nhập: Jul 2007
Nơi sống: HCMC
Bài gửi: 159
Cảm Ơn: 87
Thanked 24 Times in 14 Posts
Gửi tin nhắn qua Yahoo tới dumpling00
P/S: Ko nên wá thật thà trong cuộc sống
__________________
Mannschaft là tất cả , Bayern là linh hồn , Kahn ở trong tim
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
  #4 (permalink)  
Tuổi 23-06-2008, 23:20 PM
Avatar của Amy_Marin
Miss 9x
 
Gia nhập: May 2008
Bài gửi: 1,037
Cảm Ơn: 270
Thanked 144 Times in 68 Posts
Albert Einstein (14 tháng 3 năm 1879 – 18 tháng 4 năm 1955) là nhà vật lý người Mỹ gốc Đức – Do Thái. Ông nổi tiếng với tư cách là cha đẻ của thuyết tương đối. Ngoài thuyết tương đối, ông cũng có các đóng góp lớn cho việc xây dựng cơ học lượng tử và cơ học thống kê.

Xem ảnh to
Einstein năm 1947

Nổi tiếng vì :
Lý thuyết tương đối rộng
Lý thuyết tương đối hẹp
Chuyển động Brown
Hiệu ứng quang điện
Phương trình Einstein
Phương trình trường Einstein
Lý thuyết trường thống nhất
Thống kê Bose–Einstein
Nghịch lý EPR


Giải thưởng:
Giải Nobel Vật LÝ (1921)
Copley Medal(1925)
Huy Hiệu Max Planck(1929)

SỰ NGHIỆP KHOA HỌC
Ông là người đã công bố vào năm 1905 ba bài viết gây nên ảnh hưởng có tính cách mạng đến sự phát triển của vật lý hiện đại.

Trong bài viết thứ nhất, ông đã đề xuất thuyết tương đối hẹp mô tả chính xác hơn các hạt vật chất chuyển động với vận tốc cao. Tiên đề cơ bản của thuyết tương đối hẹp là vận tốc ánh sáng cũng như mọi định luật vật lý là như nhau trong mọi hệ quy chiếu quán tính. Einstein biết rõ về kết quả thí nghiệm âm tính của Michelson-Morley, nhưng chưa quen biết với công trình của Hendrik Lorentz sau năm 1895, nên ông đã tự sáng tạo ra biến đổi Lorentz cho mình (Pais 1982, p. 133).

Thuyết tương đối hẹp đòi hỏi nhiều sự thay đổi đối với các định luật cơ học, tuy nhiên các phương trình điện từ của James Clerk Maxwell được phát hiện là thoả mãn hoàn toàn thuyết này mà không cần sự thay đổi gì. Sử dụng thuyết tương đối hẹp, Einstein đã tìm ra được sự tương đương giữa khối lượng nghỉ m0 và năng lượng E của vật chất, mô tả bởi E2-p2c2=m02c4, với c là vận tốc ánh sáng và p là động lượng (tương đối tính). Khi khối lượng tổng cộng (tương đối tính) m=γm0 được dùng (ở đây γ=(1-(v/c)2)½), phương trình đơn giản hoá thành phương trình nổi tiếng E=mc2.

Xem ảnh to
Công thức nổi tiếng tại Berlin

Trong bài viết thứ hai, cùng xuất bản vào năm 1905, Einstein đã giải thích được hiệu ứng quang điện bằng cách giả thiết rằng ánh sáng là các hạt chuyển động (gọi là photon) với năng lượng E=hν, ở đây h là hằng số Planck (gọi tên theo nhà vật lý Max Planck) và ν là tần số của hạt photon. Đây là một mở rộng của lý thuyết lượng tử ánh sáng của Planck. Phương trình mà Einstein tiên đoán từ lý thuyết này đã được kiểm chứng bằng thí nghiệm của Robert Millikan vào năm 1916.

Cũng vào năm 1905 ấy, trong bài viết thứ ba, Einstein đã giải thích chuyển động Brown bằng lý thuyết động học, với lập luận cơ bản là chuyển động của các hạt Brown là do sự va đập hỗn loạn của các phân tử. Einstein đã tiếp tục phát triển lý thuyết này đến một phương trình cho thấy các hạt lơ lửng trong không trung trên mặt đất sẽ dần dần tự sắp xếp theo mật độ giảm dần theo hàm mũ tự nhiên từ thấp lên cao. Sử dụng phương trình của Einstein cho chuyển động Brown và phân bố của các hạt, Jean Perrin đã đo được hằng số Boltzmann bằng thí nghiệm.

Einstein sau đó tiếp tục phát triển thuyết tương đối rộng, dựa trên tiên đề là gia tốc đều tương đương với trọng trường hấp dẫn. Tiên đề này thường được biết đến với tên gọi nguyên lý tương đương của trọng trường. Nó mô tả trọng trường như là độ cong của không thời gian. Lý thuyết tương đối rộng sử dụng rất nhiều tính toán tensor Ricci-Curbastro. Einstein cũng đã nghiên cứu mô hình vũ trụ, và thấy là lý thuyết tương đối rộng không thỏa mãn điều kiện đồng nhất, đẳng hướng và cân bằng của vũ trụ, trừ phi thêm vào lý thuyết này một hằng số gọi là hằng số vũ trụ.

Trong phần lớn cuộc đời còn lại của mình, Einstein đã có những cố gắng không thành công trong việc tạo ra một lý thuyết thống nhất có thể mô tả tất cả mọi loại lực của tự nhiên như là các dạng khác nhau của một lực cơ bản nhất. Các lý thuyết của Einstein thường gây nhiều tranh cãi, ngay cả rất nhiều năm sau khi ông công bố chúng. Trong một bản tiến cử Einstein vào Viện Hàn lâm Khoa học Đức, người ta đã viết "Tóm lại, ta có thể nói là hầu như không có một vấn đề lớn nào của vật lý hiện đại mà Einstein không thực hiện những đóng góp quan trọng. Một vài dự đoán nhầm của ông, ví dụ như giả thuyết về các hạt ánh sáng, cũng không thể đem ra để phản bác lại ông được, vì rằng sẽ không thể đưa ra những ý tưởng mới, ngay cả với những môn khoa học chính xác nhất, mà không thỉnh thoảng sẵn sàng đương đầu với may rủi" (Pais 1982, p. 382).

Một nghiên cứu gần đây về bộ não của Einstein, đã được bảo quản cho đến nay (chi tiết có thể xem Regis 1991), người ta thấy khu vực bên trong của não, phần liên quan đến tư duy toán học, rộng hơn bình thường đến 15% (Witelson và các tác giả khác 1999). Ngoài ra, các đường viền não, bình thường chạy từ sau ra trước, không phát triển đối với não của Einstein. Tuy nhiên, chưa thể khẳng định được sự ảnh hưởng của các yếu tố sinh lý bất thường này đến sự sáng tạo khoa học của Einstein.

TÓM TẮT ĐỜI TƯ
Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại thị trấn nhỏ Ulm bên dòng sông Danube thuộc bang Baden-Württemberg của Đức. Einstein bỏ quốc tịch Đức năm 1896 và nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901. Sau khi tốt nghiệp trường Eidgenössische Technische Hochschule (một trường đại học kỹ thuật) năm 1900 ở Zurich, Thụy Sĩ, ông dạy toán tại một trường đại học kỹ thuật khác ở Winterthur, rồi từ 1902 đến 1908, bắt đầu làm việc cho văn phòng cấp bằng sáng chế kỹ thuật tại Bern, với chức vụ giám định viên kỹ thuật hạng III. Đây chính là thời gian Einstein có những phát kiến quan trọng trong vật lý lý thuyết, và cũng là nền tảng cho sự nghiệp của ông sau này, hoàn toàn làm ngoài giờ và không có nhiều liên hệ trực tiếp với đồng nghiệp và tài liệu khoa học.

Xem ảnh to

Einstein nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Zurich năm 1905 và cùng năm này xuất bản 3 công trình khoa học trong đó có thuyết tương đối hẹp. Sau khi phát kiến ra nguyên lý tương đương của trọng trường năm 1907, Einstein trở thành giảng viên tại Đại học Bern năm 1908, rồi thành giáo sư vật lý tại Đại học Zurich năm 1909 và bắt đầu được biết đến là một nhà khoa học hàng đầu. 1911, trong khi chuyển đến giảng tại Đại học Karl-Ferdinand ở Praha (thủ đô của Tiệp Khắc lúc đó), ông đưa ra tiên đoán đầu tiên của thuyết tương đối rộng là ánh sáng phải đi theo đường cong khi qua gần Mặt Trời. Một năm sau đó trở lại Zurich tiếp tục phát triển lý thuyết về trọng trường bằng tính toán tensor, với sự giúp đỡ của bạn học và cũng là nhà toán học Marcel Grossmann. Năm 1914 ông quay lại Đức, trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Đức. Năm 1915, lần đầu thuyết tương đối rộng được xuất bản. Năm 1919, đo đạc với ánh sáng mặt trời khi có nhật thực của một đoàn chuyên gia người Anh đã khẳng định tiên đoán của Einstein vào năm 1911.

Xem ảnh to

Einstein nhanh chóng trở nên rất nổi tiếng trên thế giới, còn ở Đức ông lại bị một số phần tử bài Do Thái tấn công. Từ năm 1920 đến năm 1927, ông đi khắp thế giới để thuyết trình và hoạt động xã hội (1921 Mỹ, 1922 Pháp và Nhật, 1923 Palestine, rồi 1924 Nam Mỹ). Năm 1921 cũng là năm Einstein được nhận giải thưởng Nobel về vật lý, không phải cho công trình nổi tiếng nhưng vẫn còn gây tranh cãi vào thời điểm này là lý thuyết tương đối, mà cho những giải thích về hiệu ứng quang điện. Bắt đầu từ năm 1927, Einstein tham gia vào một cuộc tranh luận với Niels Bohr về thuyết lượng tử. Ông làm việc quá sức và lâm bệnh năm 1928. Mặc dù bình phục ngay trong năm này, cường độ làm việc của ông buộc phải giãn hơn trước. Năm 1932, Einstein nhận giảng tại Đại học Princeton, tại Mỹ, và không quay trở lại nữa vì chính quyền chống Do Thái Đức quốc xã đã cầm quyền ở Đức. Năm 1933, ông tiếp tục chu du Oxford, Glasgow, Brussels, Zurich và nhận được những vị trí danh dự mà ông đã từng mơ ước vào năm 1901 từ Jerusalem, Leiden, Oxford, Madrid và Paris. Năm 1935 Einstein quyết định ở lại Princeton thực hiện những cố gắng trong việc thống nhất các định luật của vật lý. Năm 1940 ông nhận quốc tịch Mỹ, và vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ.

Einstein là một người phản đối chiến tranh và đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp của mình vào năm 1944. Ông bắt đầu lâm bệnh từ năm 1949 và viết di chúc năm 1950. Năm 1952, chính phủ Israel mời Einstein nhận chức tổng thống, nhưng ông từ chối. Một tuần trước khi mất, Einstein ký tên vào một bức thư kêu gọi các nước không xây dựng vũ khí hạt nhân. Ông mất tại Trenton, New Jersey, 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955.

Xem ảnh to

NHỮNG CÂU NÓI NỔI TIẾNG
Do có gốc gác Do Thái, Einstein đã bị công kích bởi một số người bài Do Thái. Khi một truyền đơn được phân phát dưới tiêu đề 100 tác giả chống lại Einstein, Einstein đã viết: "Cần gì phải đến 100 người? Nếu tôi thực sự sai, chỉ một là đủ!"

Xem ảnh to

Về Chúa Trời:
+"Bất cứ ai cho mình quyền phán xét thế nào là Sự thật và Tri thức đều trở thành hề đối với Chúa trời."
+"Tôi muốn biết Chúa trời đã sinh ra thế giới như thế nào. Tôi không quan tâm đến hiện tượng cụ thể này nọ, trong bối cảnh nọ kia. Tôi muốn biết Chúa đã nghĩ như thế nào, tất cả phần còn lại chỉ là chi tiết."
+"Chúa trời rất khó hiểu, nhưng không ma mãnh."
+"Chúa trời không chơi trò may rủi với thế giới này." (God does not play dice with the Universe.)
+"Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng" (Science without religion is lame. Religion without science is blind.)

Về Khám Phá Khoa Học
+"Sự sáng tạo không phải là sản phẩm của suy luận lô-gic, dù rằng sản phẩm cuối cùng gắn liền với một cấu trúc lô-gic."
+ "Tự nhiên chỉ cho chúng ta thấy cái đuôi của con sư tử. Nhưng tôi không nghi ngờ rằng con sư tử là chủ nhân của cái đuôi ấy dù nó không thể xuất đầu lộ diện với tầm vóc khổng lồ của nó." (Pais 1982, p. 235)
+"Từ trên cao, Tự nhiên mỉm cười nhìn xuống, người đã trao cho chúng ta một lòng khao khát khám phá, nhiều hơn là khả năng trí tuệ để làm việc ấy."
+"Đừng lo lắng về khó khăn của bạn trong toán học, tôi đảm bảo với bạn rằng những khó khăn toán học của tôi còn gấp bội."
+Khi được đề cử làm tổng thống Israel, ông từ chối với lý do là ngây thơ về chính trị, nhưng thật ra, đối với ông: "Phương trình quan trọng hơn đối với tôi, vì chính trị là cho hiện tại, còn phương trình là cho vĩnh cửu".

Khi con ông hỏi vì sao ông nổi tiếng, Einstein đã giải thích công lao của ông một cách dễ hiểu và khiêm tốn: "Khi con bọ dừa bò theo một cành cây nó không nhận thấy là cành cây bị cong. Cha đã có may mắn nhận thấy cái mà con bọ dừa không nhận thấy con ạ."

Về cách thành công:
]+"Suy nghĩ, suy nghĩ đi, suy nghĩ mãi"
+"Nếu như tưởng tượng rằng những gì chúng ta biết là một hình tròn thì những gì ngoài vòng tròn đó thật lớn biết bao."
+"Tôi không biết chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ xảy ra khi nào nhưng tôi biết rằng sẽ không thể có chiến tranh thế giới thứ 4!"

Những câu nói hài hước:
+Trọng lực không thể chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau.
+Khi bạn ngồi cạnh một cô gái đáng yêu, hai giờ dường như hai phút. Khi bạn ngồi trên một cái lò nướng đỏ lửa, hai phút tưởng như hai giờ. Đó là sự tương đối.

(wikipedia.org)
__________________


MARKO MARIN ...

Last edited by mhieu : 24-06-2008 at 15:45 PM.
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Có tất cả 3 thành viên đã cảm ơn bạn Amy_Marin vì bài viết:
  #5 (permalink)  
Tuổi 24-06-2008, 09:10 AM
Avatar của lupin5
Manager
 
Gia nhập: Apr 2007
Nơi sống: Alps
Bài gửi: 7,675
Cảm Ơn: 408
Thanked 2,244 Times in 1,092 Posts
các em trẻ có tin thần học hỏi tìm hiểu như thế là rất tốt. good good.
tiếp tục đi các em. để anh còn mở mang hiểu biết.
^^
__________________
Xem ảnh to
<Sống,học tập,làm việc và kiếm tiền theo gương Dr Black Jack và Arsene Lupin vĩ đại>
Xem ảnh to
Xem ảnh to
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
  #6 (permalink)  
Tuổi 24-06-2008, 10:25 AM
Avatar của Amy_Marin
Miss 9x
 
Gia nhập: May 2008
Bài gửi: 1,037
Cảm Ơn: 270
Thanked 144 Times in 68 Posts
Trích dẫn:
Nguyên văn bởi lupin5 Xem Bài Gửi
các em trẻ có tin thần học hỏi tìm hiểu như thế là rất tốt. good good.
tiếp tục đi các em. để anh còn mở mang hiểu biết.
^^
Té ra là anh lupin "ngồi chơi xơi nước" ấy hả,bắt mấy em 9x góp bài,còn mình chỉ việc ngồi tụng
__________________


MARKO MARIN ...
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
  #7 (permalink)  
Tuổi 24-06-2008, 10:42 AM
Avatar của Amy_Marin
Miss 9x
 
Gia nhập: May 2008
Bài gửi: 1,037
Cảm Ơn: 270
Thanked 144 Times in 68 Posts
MAX BORN
Max Born (11 tháng 12, 1882 – 5 tháng 1, 1970) là một nhà vật lý và một nhà toán học người Đức. Ông được trao thẳng giải thưởng Nobel vật lý vào năm 1954.

Xem ảnh to
MAX BORN

THỜI NIÊN THIẾU VÀ GIÁO DỤC
Born được sinh ra ở Breslau (bây giờ là Wrocław), vào lúc Born sinh ra là tỉnh Silesia của Vương quốc Phổ. Ông là một trong hai người con của Gustav Born, (sinh 22 tháng 4, 1850, Kempen, mất 6 tháng 7, 1900, Breslau), một nhà giải phẫu, và Gretchen Kauffmann (sinh 22 tháng 1, 1856, Tannhausen, mất 29 tháng 8, 1886, Breslau), từ một gia đình của các nhà công nghiệp của tỉnh Silesia. Gustav và Gretchen thành hôn vào 7 tháng 5, 1881. Max Born có một người em gái tên là Käthe (sinh 5 tháng 3, 1884), và một người em kế tên là Wolfgang (sinh 21 tháng 10, 1892), sau khi cha ông lập gia đình lần thứ hai (13 tháng 9, 1891) với Bertha Lipstein. Mẹ của Max Born qua đời khi ông vừa được bốn tuổi.


Sau khi học xong trung học tại Gymnasium König-Wilhelm, Born tiếp tục học tại Đại học Breslau sau đó là Đại học Heidelberg và Đại học Zurich. Trong thời gian học Ph.D.[1] và Habilitation [2] tại Đại học Göttingen, ông bắt đầu biết đến nhiều nhà toán học và khoa học lỗi lạc bao gồm Klein, Hilbert, Minkowski, Runge, Schwarzschild, và Voigt. Vào năm 1908-1909 ông học tại Gonville và Caius College, Cambridge.

SỰ NGHIỆP
Sau khi Born làm xong Habilitation vào năm 1909, ông trở thành một học giả trẻ tại Göttingen như là một Privatdozent.[3]

Từ năm 1915 đến 1919, ngoại trừ một thời gian ngắn trong quân đội Đức, Born là giáo sư (extraordinarius professor) về vật lý lý thuyết tại Đại học Berlin, nơi ông trở thành bạn với Albert Einstein. Vào năm 1919, ông trở thành giáo sư (ordinarius professor) trong phân khoa Khoa học tại Đại học Frankfurt am Main. Trong khi ở đó, Đại học Göttingen đang tìm người thay thế cho Peter Debye, và bộ môn Triết học đã đặt Born ở đầu danh sách. Trong khi thương lượng về vị trí đó với bộ giáo dục, Born đã bố trí một vị trí khác tại Göttingen cho đồng nghiệp và là bạn lâu năm là James Franck vào chỗ đó.[4] Vào năm 1921, Born trở thành giáo sư (ordinarius professor) về vật lý lý thuyết và Giám đốc của Viện Vật lý lý thuyết tại Göttingen.[5] Trong khi ở đó, ông đã công thức hóa [6] diễn đạt mà bây giờ đã trở thành tiêu chuẩn của hàm mật độ xác suất (probability density function) cho ψ*ψ trong phương trình Schrödinger của cơ học lượng tử, xuất bản tháng 7 năm 1926[7] và vì công trình đó ông đã được giải Nobel về vật lý năm 1954, khoảng ba thập kỉ sau đó.

Trong suốt 12 năm Born và Franck tại Göttingen, 1921 - 1933, Born đã có một cộng sự cùng quan điểm trên những khái niệm khoa học cơ bản - một thuận lợi đáng kể trong việc giảng dạy và nghiên cứu về cơ học lượng tử. Quan điểm về sự hợp tác chặt chẽ giữa vật lý lý thuyết và vật lý thực nghiệm cũng được đồng ý bởi Arnold Sommerfeld tại Đại học Munich, người cũng là một giáo sư vật lý lý thuyết và Giám đốc Viện Vật lý lý thuyết - cũng là một trong những người đi đầu trong sự phát triển của lý thuyết lượng tử. Born và Sommerfeld không chỉ cùng quan điểm về cách sử dụng vật lý thực nghiệm để thử và phát triển những lý thuyết của họ, Sommerfeld, năm 1922 khi ông ở Hoa Kỳ giảng dạy tại Đại học Wisconsin-Madison, đã gửi học sinh của ông là Werner Heisenberg để làm trợ lý cho Born. Heisenberg lại quay về Göttingen vào năm 1923 và hoàn thành Habilitation dưới sự hướng dẫn của Born vào năm 1924 và trở thành Privatdozent tại Göttingen - một năm trước khi Heisenberg và Born xuất bản những bài báo đầu tiên của họ về cơ học ma trận.[8] [9]

Vào năm 1925, Born và Werner Heisenberg đã công thức hóa việc biểu diễn cơ học ma trận cho cơ học lượng tử. Vào 9 tháng 7, Heisenberg đưa cho Born một bài báo để đánh giá và đưa đi xuất bản.[10] Trong bài báo đó, Heisenberg đã công thức hóa cơ học lượng tử tránh những biểu diễn cụ thể nhưng không quan sát được về quỹ đạo của electron bằng cách sử dụng các tham số như là xác suất chuyển đổi cho các bước nhảy lượng tử.[11] Khi Born đọc bài báo đó, ông nhận ra rằng cách hình thức hóa đó có thể mở rộng ra ngôn ngữ của ma trận một cách hệ thống hơn,[12] mà ông đã từng biết đến khi học cùng với Jakob Rosanes[13] tại Đại học Breslau. Born, cùng với sự giúp đỡ của trợ lý và cũng là học trò cũ của mình là Pascual Jordan, ngay lập tức bắt đầu công việc mở rộng đó, và nộp kết quả của họ để xuất bản; bài báo được nhận đăng chỉ 60 ngày sau bài báo của Heisenberg.[14] [15] (Một bản tóm tắt ngắn về vai trò của Born trong sự phát triển của việc công thức hóa cơ học lượng tử sử dụng cơ học ma trận cùng với lời bàn về một công thức quan trọng liên quan tính không giao hoán được của xác suất biên độ có thể tìm đọc bài viết bởi Jeremy Bernstein.[16][17][18])

Cho đến thời điểm đó, ma trận ít được sử dụng bởi các nhà vật lý; chúng được xem là thuộc về lãnh vực toán học thuần túy. Gustav Mie đã sử dụng chúng trong một bài báo về điện động học (electrodynamics) năm 1912 và Born đã sử dụng chúng trong lý thuyết về tinh thể năm 1921. Khi ma trận được sử dụng trong các trường hợp đó, đại số của các ma trận với phép nhân ma trận đã không dùng đến như là việc công thức hóa cơ học lượng tử sử dụng ma trận.[19]

Born, đã học về đại số ma trận từ Rosanes và cũng học từ lý thuyết của Hilbert về phương trình tích phân và dạng bình phương cho vô hạn biến từ một trích dẫn của Born về cuốn sách của Hilbert Grundzüge einer allgemeinen Theorie der Linearen Integralgleichungen xuất bản năm 1912.[20] [21] Jordan đã nhiều năm là trợ lý cho Richard Courant tại Göttingen trong khi chuẩn bị cho cuốn sách của Courant và David Hilbert Methoden der mathematischen Physik I, xuất bản năm 1924.[22] Cuốn sách này chứa đựng nhiều công cụ toán học cần thiết cho sự phát triển kế tiếp của cơ học lượng tử. Vào năm 1926, John von Neumann trở thành trợ lý cho David Hilbert, và ông đã sử dụng cụm từ không gian Hilbert để miêu tả đại số và giải tích sử dụng trong việc phát triển cơ học lượng tử.[23] [24]

Vào năm 1928, Albert Einstein đã đề cử Heisenberg, Born, và Jordan cho giải Nobel vật lý,[25] nhưng điều đó đã không xảy ra. Công bố giải Nobel về Vật lý vào năm 1932 đã được hoãn lại cho đến tháng 11 năm 1933.[26] Vào lúc đó thì người ta được thông báo rằng Heisenberg đã được giải Nobel năm 1932 “cho việc sáng lập ra cơ học lượng tử, mà ứng dụng của nó đã, inter alia, dẫn đến việc khám phá ra dạng allotropic của hydrogen”[27] Erwin Schrödinger và Paul Adrien Maurice Dirac đồng được giải Nobel năm 1933 "cho khám phám ra dạng mới của lý thuyết hạt nhân".[28] Người ta có thể đặt câu hỏi rằng tại sao Born đã không được trao giải năm 1932 cùng với Heisenberg – Bernstein đưa ra một số phỏng đoán về vấn đề này. Một trong chúng là việc Jordan tham gia Đảng Quốc xã vào ngày 1 tháng 5, 1933 và trở thành một Storm Trooper.[29] Do vậy, liên hệ của Jordan vởi Đảng (Quốc xã) và liên hệ của Jordan với Born có thể ảnh hưởng tới việc trao giải cho Born vào thời điểm đó. Bernstein cũng để ý rằng khi Born được trao giải năm 1954, Jordan vẫn còn sống, và giải thưởng chỉ được nói là cho các diễn tả mang tính thống kê của vật lý lượng tử, và chỉ là đóng góp của riêng Born.[30]

Phản ứng của Heisenberg đối với Born khi Heisenberg nhận giải Nobel năm 1932 và khi Born nhận giải Nobel năm 1954 là đáng để ý để đánh giá xem liệu Born có nên cùng đồng được giải Nobel với Heisenberg. Vào 25 tháng 11, 1933 Born nhận một lá thư từ Heisenberg nói rằng ông đã trì hoãn gửi đi do “lương tâm cắn rứt” rằng một mình ông được nhận giải Nobel “cho các công trình tìm ra tại Göttingen là sự hợp tác với – ông, Jordan và tôi.” Heisenberg viết tiếp rằng đóng góp của Born và Jordan vào vật lý lượng tử không thể bị thay thế bởi “ một quyết định sai lầm từ bên ngoài.”[31] Năm 1954, Heisenberg viết một bài báo tôn vinh các ý tưởng đi trước thời gian của Max Planck vào năm 1900. Trong bài viết đó, Heisenberg đã công nhận Born và Jordan đưa ra các công thức cuối cùng của cơ học ma trận và Heisenberg tiếp tục nhấn mạnh đóng góp của họ vào cơ học lượng tử, mà "không được công nhận một cách đúng đắn bởi công chúng.”[32]

Những người nhận bằng Ph.D. dưới sự hướng dẫn của Born ở Göttingen bao gồm Max Delbrück, Walter Elsasser, Friedrich Hund, Pascual Jordan, Maria Goeppert-Mayer, Lothar Wolfgang Nordheim, Robert Oppenheimer, và Victor Weisskopf.[33] Trợ lý của Born tại Viện vật lý lý thuyết ở Đại học Göttingen bao gồm Enrico Fermi, Werner Heisenberg, Gerhard Herzberg, Friedrich Hund, Pascual Jordan, Wolfgang Pauli, Léon Rosenfeld, Edward Teller, và Eugene Wigner.[34] [35] [36] Walter Heitler trở thành trợ lý của Born năm 1928 và dưới sự hướng dẫn của Born hoàn thành Habilitation năm 1929.[37] Các học sinh Ph.D. Delbrück, và 6 người trợ lý của ông (Fermi, Heisenberg, Goeppert-Mayer, Herzberg, Pauli, Wigner) lần lượt đều được giải Nobel.

(Wiki.org)
__________________


MARKO MARIN ...
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Có tất cả 2 thành viên đã cảm ơn bạn Amy_Marin vì bài viết:
  #8 (permalink)  
Tuổi 24-06-2008, 12:15 PM
Avatar của dumpling00
Senior Member
 
Gia nhập: Jul 2007
Nơi sống: HCMC
Bài gửi: 159
Cảm Ơn: 87
Thanked 24 Times in 14 Posts
Gửi tin nhắn qua Yahoo tới dumpling00
Có 1 chi tiết rất thú vị về Einstein, gia đình ông là người Do Thái nên luôn bị kỳ thị ở Đức.Cha và chú ông hùn vốn mở 1 xưởng nhỏ sữa chữa đồ điện, vì vậy điều kiện kinh tế gia đình khá tốt.
Cha mẹ luôn hy vọng ông sẽ là 1 tài năng xuất chúng, có địa vị xã hội.Song họ đã mau chóng thất vọng..Einstein nhỏ bé dường như phản ứng rất chậm với sự vật chung quanh.Tròn 2 tuổi vẫn ko biết nói, đầy 3 tuổi mới bi bô.~ câu mẹ dạy ông đều nói lắp bắp ko rõ ràng & cũng ko nhớ đc lâu.Cha ông đau khổ nói với mẹ ông rằng :
_Anh thấy trí lực nó thấp, nhưng mong sao nó ko phải là đứa đần độn...
Thậm chí họ còn mời bác sĩ đến kt sức khỏe & độ phản ứng của ông.
Sau đó ít lâu, mẹ Einstein phát hiện ra con mình rất yêu thích âm nhạc.Khi bà chơi đàn thì Einstein lẳng lặng đến bên, chăm chú lắng nghe khúc nhạc.Sau đó, gia đình cho ông đi học vĩ cầm, và ông kéo vĩ cầm cũng rất hay.Bố Einstein cũng đc an ủi, thấy con mình tuy nói năng k lưu loát nhưng rất thông minh.
Khi Einstein lên 5 tuổi, bố mua cho ông 1 chiếc la bàn để chơi.Ông quay đi quay lại chiếc la bàn & phát hiện ra rằng cái kim bên trong luôn luôn chỉ về hướng cũ.Ông rất ngạc nhiên & nghĩ ngợi "Tại sao lại như thế?".Cuối cùng k kìm đc, ông đã hỏi bố :
_Bố àh, vì sao cái kim này cứ chỉ về hướng này?
Bố ông trả lời:
_Nó luôn chỉ về hướng Nam, cho nên gọi là kim chỉ Nam.
Einstein hỏi tiếp:
_Vậy cái j` khiến cho nó luôn chỉ về hướng Nam?
_Là 1 loại lực từ...
_Lực từ là cái j`?
Người cha ko trả lời đc rành rẽ, đành xua tay:
_Con còn nhỏ, ko hiểu đâu, lớn lên sẽ rõ.
Ko thỏa mãn, Einstein mang là bàn đến hỏi người chú, người chú nhẫn nại giải thích 1 hồi.Tuy ko hiểu, nhưng ông vẫn hài lòng và chạy đi.
Bí mật của chiếc la bàn khiến cho ông bắt đầu cảm thấy trên thế giới nay có vô vàn ~ thứ mắt ko thể thấy đc, tay ko cầm nắm đc, cân phải làm sáng tỏ.Lòng hiếu kỳ ấy đã ảnh hưởng rất lớn đến công việc nghiên cứu khoa học của ông sau này!
6 tuổi,Einstein bắt đầu đi học.Ở trường kết wả học tập của ông bình thường, nếu ko muốn nói là kém.Có thầy giáo còn wả wuyết rằng ông mãi mãi ko thể thành tài.
12 tuổi, nhờ sự mô tả sinh động về đại số & hình học 1 cách sinh động của người chú, Einstein bắt đầu đam mê toán học.Sau đó, ông tự học hết hình học phẳng, lại tiếp tục học toán cao cấp.Chưa đầy 1 năm, 1 sinh viên toán đại học cũng ko sánh = cậu bé 13 tuổi này, ông còn học rất nhiều sách về khao học tự nhiên
(Dumpling's books )Einstein đúng là 1 thiên tài ko giỏi nói năng nhưng ham suy nghĩ!
__________________
Mannschaft là tất cả , Bayern là linh hồn , Kahn ở trong tim
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Có tất cả 2 thành viên đã cảm ơn bạn dumpling00 vì bài viết:
  #9 (permalink)  
Tuổi 24-06-2008, 14:32 PM
Avatar của Ipie
Senior Member
 
Gia nhập: Jul 2007
Bài gửi: 413
Cảm Ơn: 93
Thanked 70 Times in 37 Posts
Ngoài những danh nhân đã kể ở trên, nước Đức còn là quê hương của biết bao con người vĩ đại khác. Và điều đáng nói mỗi người trong họ là những người được xem là cha đẻ hoặc là xuất sắc nhất trong lĩnh vực đó. Mình xin kể ra đây một số tên tuổi vĩ đại đó (ko thể nào kể hết), còn về tiểu sử, các bạn có thể vào google là có ngay. Khi nào có thời gian rảnh, mình sẽ viết rõ hơn, nhất là những câu chuyện thú vị xung quanh cuộc đời và sự nghiệp của họ để các bạn trẻ chúng ta học tập, hay ít ra là có thêm niềm hứng khởi, lòng say mê, cảm hứng tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ, thú vị của cuộc sống.

TOÁN HỌC:
- GAUSS: ông được xem là ông vua của toán học vì những đóng góp sâu và rộng trong hầu hết mọi lĩnh vực của Toán học, kể cả toán học hiện đại. Từ số học, giải tích cho đến tin học hay vật lí, ở đâu ta cũng thấy dấu chân của ông. Gauss cũng là người đầu tiên xây dựng hình học phi Euclid (nhưng ko công bố tại thời điểm đó vì sợ người đời cười nhạo do họ ko về nó, nên hình học này đc gọi là hình học Lobachevski-nhà toán học Nga). Einstein đã sử dụng rất nhiều kết quả của hình học này trong thuyết tương đối của mình. Nói cách khác, ko có hình học này thì chưa chắc thuyết tương đối đc phát minh bởi Nhà khoa học vĩ đại nhất TK 20.
- RIEMANN: ông này cũng là cha đẻ của một môn hình học phi Euclid khác. Nó khác với hình học Gauss-Lobachevski (G-L) là: trong khi với hình học G-L thì tổng ba góc trong 1 tam giác lớn hơn 180 độ thì với hình học Riemann thì nó lại nhỏ hơn 180 (mình nói vậy để cho các bạn dễ hình dung chứ nó rất phức tạp chứ ko đơn giản vậy).
- HILBERT: ông đc xem là một trong những nhà toán học có ảnh hưởng rộng lớn nhất của thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, từ số học, giải tích cho đến vật lí. Ông có đưa ra 23 bài toán chưa giải được, thách thức cả thế giới. Cho đến nay, chỉ có vài bài là đã dc giải.
- Ngoài ra còn có những tên tuổi khác như: Jacobi, Dirichlet ...

VẬT LÍ:
- MAX PLANCK: Ông là cha đẻ của thuyết lượng tử, lí thuyết có tầm ảnh hưởng ko kém gì thuyết tương đối của Einstein, thậm chí có thể xếp ngang hàng. Hai lí thuyết này có những điểm trái ngược, mâu thuẫn nhau và hiện giờ chưa có lí thuyết nào thống nhất đc chúng. Công việc này đang chờ chúng ta đó.
- RONTGEN: Người phát minh ra tia X. Tầm quan trọng của nó thì các bạn đã biết.

ÂM NHẠC:
- Người đc xem là nhà soạn nhạc Vĩ đại của mọi thời đại, ko ai khác chính là Ludwig Van Beethoven. Ông này thì quá nổi tiếng rồi.
- Ngoài ra còn phải kể đến : Johan Strauss (tác giả của Dòng Danube xanh), Joseph Haydn (thầy của Beethoven và là tác giả của quốc ca Đức), Johan Sebastian Bach, Rimann,....

VĂN HỌC: Goethe là số 1. Một nhà thơ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia, nhà văn, nhà khoa học, họa sĩ. Ông có chỉ số IQ cao nhất thế giới: 200 điểm. Beethoven đã có rất nhiều bản nhạc lấy cảm hứng và nội dung từ thơ của Goethe.

Kể bấy nhiêu thôi, nhiều nữa. Những người trên là ở vị trí số một trong lĩnh vực của mình.
Ngoài con người, nước Đức còn là nơi sản sinh ra những sản phẩm số 1 khác như:
- Xe hơi: toàn là siêu xe, số 1 là Mercedes. (BMW, Volkswagen, Audi...)
- Dụng cụ thể thao: tất nhiên là Adidas. Còn có Puma, anh em với Adidas.
- Ống kính, bút chì, bút vẽ, sản phẩm cơ khí, máy xây dựng và một dụng cụ y tế: số một là Đức.

Last edited by mhieu : 24-06-2008 at 15:54 PM.
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Tất cả thành viên đã cảm ơn bạn Ipie vì bài viết:
  #10 (permalink)  
Tuổi 24-06-2008, 14:46 PM
Avatar của tuthanhmd
Manager
 
Gia nhập: Aug 2007
Nơi sống: Saigon
Bài gửi: 1,299
Cảm Ơn: 166
Thanked 547 Times in 180 Posts
Ống kính chụp hình của Đức rất nổi tiếng, đặc biệt là ống kính Carl Zeiss có thể coi là số 1 thế giới; các mảy ảnh, camera của Sony, điện thoại Nokia thường lắp ống kính này.
Còn máy ảnh nổi tiếng của Đức là máy Leica; ống kính Leica cũng rất tốt, thường đc lắp cho các camera của Panasonic.
__________________
Có 1 thứ trên đời mà ta không thể sống được nếu thiếu nó.
Đó là tình yêu của người phụ nữ.

Last edited by mhieu : 24-06-2008 at 15:55 PM.
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Có tất cả 2 thành viên đã cảm ơn bạn tuthanhmd vì bài viết:
Gửi Ðề Tài Mới  Gửi trả lời


Công Cụ
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
Bạn không được gửi bài
Bạn không được gửi trả lời
Bạn không được gửi kèm file
Bạn không được sửa bài

vB code đang Mở
Hình Diễn tả đang Mở
[IMG] đang Mở
Mã HTML đang Tắt
Trackbacks are Mở
Pingbacks are Mở
Refbacks are Tắt


Bản quyền thuộc www.bongdaduc.vn © 2007 Mã nguồn vBulletin v3.6.4.